Đảm bảo chất lượng dạy nghề trong khu vực là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch 5 năm về Giáo dục của ASEAN (2016-2020). Để hỗ trợ ASEAN trong lĩnh vục ưu tiên nêu trên, trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác khu vực phát triển dạy nghề (RECOVET) do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHLB Đức tài trợ, năm 2015, một nhóm công tác gồm Thư ký ASEAN (trưởng nhóm), đại diện các cán bộ cấp Chính phủ, cấp trường, các cơ quan đảm bảo chất lượng dạy nghề và đại diện Ngành của các nước thành viên ASEAN đã được thành lập với mục tiêu xây dựng Khung đảm bảo chất lượng dạy nghề ASEAN (Khung ASEAN TVET QA). Các thành viên Nhóm công tác đã tham dự nhiều đợt tập huấn, hội thảo nhằm trao đổi, thống nhất nội dung Khung ASEAN TVET QA. Đầu tháng 11/2016, Nhóm công tác với sự hỗ trợ của các chuyên gia Đức đã hoàn thành Dự thảo lần 1 Khung ASEAN TVET QA và theo kế hoạch, cuối năm 2017, Khung ASEAN TVET QA sẽ được trình phê duyệt tại Hội nghị quan chức cấp cao về giáo dục ASEAN (SOM-ED).
Với mục tiêu giúp các trường không thụ hưởng chương trình hợp tác có tài liệu tham khảo để xây dựng, phát triển hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng của mình, Hội đồng Anh Việt Nam đã phối hợp với Tổng cục Dạy nghề hệ thống hóa các kết quả thực hiện chương trình hợp tác giai đoạn 1 thành bộ tài liệu “Quy trình, công cụ đảm bảo chất lượng của một số trường cao đẳng nghề được chuyển giao từ các trường đối tác Vương quốc Anh”. Tổng cục Dạy nghề trân trọng giới thiệu bộ tài liệu đến tất cả các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc và mong nhận được sự quan tâm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân.
Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 được thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2015 quy định rất nhiều điểm mới có tính đột phá trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Việc chuyển các trường cao đẳng thuộc giáo dục đại học sang hệ thống giáo dục nghề nghiệp, thống nhất trình độ cao đẳng và cao đẳng nghề, trung cấp và trung cấp nghề sẽ làm cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở rộng cả về mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và quy mô tuyển sinh. Bên cạnh đó, một trong những đột phá của Luật giáo dục nghề nghiệp là mở rộng tính tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về chương trình, giáo trình, nhân sự và tài chính. Các cơ sở dạy nghề phải tăng tính giải trình bằng các cơ chế để người học, nhà giáo và xã hội tham gia đánh giá chất lượng đào tạo nghề. Việc phối hợp với doanh nghiệp cũng được nhấn mạnh tại chương IV quy định rất cụ thể quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi thu hút sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Chính các yếu tố trên đã làm thay đổi cách thức các thức quản lý, vận hành hệ thống giáo dục nghề nghiệp về cơ bản sẽ thay đổi và các quy định liên quan tới quản lý, đảm bảo và giám sát chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Hoạt động đảm bảo chất lượng tại các cơ sở dạy nghề là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam, không phải lãnh đạo cơ sở dạy nghề nào cũng nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của hoạt động này. Do vậy, trong bối cảnh cảnh hiện nay để nâng cao chất lượng trong dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động thì chúng ta cần phải: Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ sở dạy nghề; Tăng cường công tác tự kiểm định và đánh giá ngoài đối với các cơ sở đào tạo nghề; Xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng đào tạo qua từng môn học/mô đun; Sử dụng sổ ghi đầu bài; Thường xuyên dự giờ của GV trong năm học; Quản lý, xử lý các thông tin phản hồi của người học và các doanh nghiệp sử dụng lao động một cách tức thời; Thành lập các tổ chức đánh giá ngoài một cách độc lập.
Quản lý chất lượng là một hoạt động quan trọng đảm bảo hiệu quả và chất lượng của hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào, quyết định sự phát triển nói chung và chất lượng của một hệ thống nói riêng. Xét về mức độ của các hệ thống quản lý chất lượng đang áp dụng trong các cơ sở giáo dục đào tạo hiện nay, hiện nay, có 3 mức độ: Kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, hầu hết các cơ sở giáo dục đào tạo hiện nay mới áp dụng mức độ kiểm soát chất lượng và xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng tiếp cận hệ thống quản lý chất lượng tổng thể. Do đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Dạy nghề đã và đang chỉ đạo các đơn vị chức năng xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong và ngoài cơ sở dạy nghề, coi đây là công cụ nâng cao chất lượng dạy nghề, góp phần nâng cao niềm tin của xã hội đối với công tác dạy nghề.
Trong những năm qua, lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp đã được Nhà nước và xã hội quan tâm đầu tư nhằm nâng cao chất lượng đào tạo góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới. Việc đẩy mạnh đầu tư thông qua việc tăng cường cơ sở vật chất thiết bị hiện đại phù hợp với yêu cầu kỹ thuật công nghệ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo về kỹ năng nghề và kỹ năng sư phạm nghề. Chương trình, giáo trình cũng được thường xuyên cập nhật, đổi mới, đặc biệt đã nhận chuyển giao một số chương trình của các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới. Công tác quản lý và kiểm soát chất lượng được chú trọng thông qua việc triển khai đồng bộ hệ thống kiểm định chất lượng dạy nghề ở tất cả các cấp trình độ. 60% các trường Cao đẳng nghề, 25% trường trung cấp nghề đã được kiểm định ngoài và công bố kết quả kiểm định cho xã hội biết. 30% số cơ sở dạy nghề đã thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy nghề thường xuyên hàng năm. Chính vì vậy, chất lượng dạy nghề đã tăng lên rõ rệt trong thời gian qua. Khoảng 70% học sinh, sinh viên học nghề có việc làm đúng nghề, đặc biệt ở một số nghề trình độ cao đẳng nghề, tỷ lệ này lên tới 95% ngay khi các em sinh viên tốt nghiệp. Nhiều học sinh học nghề đạt giải cao trong các kỳ thi khu vực ASEAN và đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam đã đạt huy chương đồng tại kỳ thi tay nghề Thế giới lần thứ 43 tổ chức tại BRAZIL năm 2015.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 đảm bảo chất lượng (ĐBCL): là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng. ĐBCLlà những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục mà thông qua việc sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và nâng cao (SEAMEO, 2002). ĐBCL là thuật ngữ chung, đề cập đến các biện pháp và cách tiếp cận được sử dụng để nâng cao chất lượng đào tạo (SEAMEO, 2003). Trong đào tạo nghề (ĐTN), ĐBCL là một quá trình liên tục: thiết lập, xây dựng hệ thống quản lý, đánh giá, kiểm soát, duy trì, khắc phục và cải tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo để đạt được mục đề ra của các doanh nghiệp.